Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh thường gặp ở trẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh thường gặp ở trẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 7, 2010

Làm gì khi bé bị sốt cao ?

2 nhận xét
Hãy đưa bé đến cơ sở y tế ngay nếu ngoài sốt, bé còn có một trong các dấu hiệu như bỏ ăn uống, ngủ li bì khó đánh thức, co giật, thở rít khi nằm yên, rút lõm lồng ngực và thở nhanh, mất nước nặng.
Sốt là dấu hiệu thường gặp nhất khi trẻ bị bệnh nhiễm khuẩn. Các bệnh nhiễm khuẩn phổ biến ở trẻ nhỏ và gây sốt cao là viêm nhiễm đường hô hấp, viêm tai giữa, tiêu chảy... Khi trẻ bị nhiễm khuẩn, ngoài việc điều trị bằng thuốc, vấn đề chăm sóc và nuôi dưỡng đúng cách cũng rất quan trọng, giúp trẻ chóng khỏi bệnh và hồi phục.
Nếu trẻ sốt nhẹ và vừa (thân nhiệt từ 37,5 độ C đến dưới 39 độ C), có thể chưa cần dùng đến thuốc hạ nhiệt, cho trẻ nằm nơi thoáng mát và nới bớt quần áo, đắp khăn ướt lên trán.

Một số trường hợp trẻ sốt cao có thể bị co giật. Khi đó, nên dùng khăn nhúng vào nước mát hoặc nước hơi ấm lau nhẹ khắp người trẻ, đặc biệt là ở nách, bẹn và trán. Cho trẻ uống thuốc hạ sốt, nếu không uống được thì dùng viên đặt hậu môn với hàm lượng thuốc tùy thuộc cân nặng, đồng thời cho uống nhiều nước. Tuyệt đối không được ủ kín trẻ.
Khi trẻ bị sốt, cứ mỗi lần thân nhiệt tăng 1 độ C thì chuyển hóa cơ bản tăng hơn 10%, do đó nhu cầu về năng lượng cũng tăng. Vì vậy, chế độ ăn trong thời gian trẻ sốt vẫn phải đảm bảo đầy đủ thành phần cung cấp năng lượng (chủ yếu là dầu, mỡ và đạm). Khi sốt, cơ thể cũng mất rất nhiều nước và chất điện giải qua da, đường thở, mất vitamin qua phân, nước tiểu... nên nhu cầu về nước, vitamin và chất khoáng tăng lên rất nhiều. Mặt khác, khi sốt cao, các men tiêu hóa bị ức chế nên trẻ thường chán ăn, phải cho trẻ ăn những món vừa dễ tiêu hóa vừa đảm bảo cung cấp đủ những nhu cầu đặc biệt của giai đoạn này.

Với trẻ nhỏ còn bú mẹ, cần cho bú nhiều lần hơn và thời gian mỗi lần bú lâu hơn bình thường. Nếu trẻ không tự bú được, người mẹ cần vắt sữa vào cốc rồi dùng thìa cho trẻ uống.

Với trẻ lớn hơn (đã ăn bổ sung), nên tăng thêm số bữa trong ngày với các loại thức ăn mềm, đa dạng, dễ tiêu hóa và chia thành nhiều bữa nhỏ. Thay đổi thức ăn, làm những món hợp khẩu vị để giúp trẻ ăn nhiều, kích thích sự thèm ăn. Nếu trẻ tiêu chảy, có thể dùng nước giá đỗ xanh để quấy bột, nấu cháo loãng để vừa giúp trẻ dễ ăn vừa đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất đạm, bột.
Đặc biệt chú ý đề phòng trẻ bị suy dinh dưỡng khi nhiễm khuẩn nặng và kéo dài. Cần cho trẻ uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả tươi, hoặc ăn thêm hoa quả để bù lại lượng nước bị mất do sốt. Cung cấp thêm vitamin A, vitamin C vì các bệnh nhiễm trùng có thể gây mất vitamin A qua phân, nước tiểu, dẫn đến nguy cơ thiếu vitamin A, đặc biệt là đối với trẻ suy dinh dưỡng. Những trẻ bị viêm phổi nặng cần bổ sung vitamin A liều cao (tùy thuộc vào tuổi theo hướng dẫn của Chương trình Phòng chống thiếu máu, vitamin A).

Nên cho trẻ ăn cả mỡ lẫn dầu, đặc biệt là mỡ gà (vì mỡ gà có tới 18% acid béo chưa no rất tốt cho sự hấp thu của trẻ). Các loại thực phẩm giàu chất đạm là sữa mẹ, sữa bò, sữa đậu nành, trứng, thịt cá...
Các sai lầm thường gặp trong nuôi dưỡng trẻ sốt nhiễm khuẩn
- Không tăng cường số bữa ăn mặc dù mỗi bữa trẻ chỉ ăn rất ít hoặc bỏ ăn.
- Nấu loãng hơn bình thường khiến trẻ lúc này đã ăn ít hơn lại càng bị thiệt thòi về chất.
- Không cho dầu mỡ vào bột, cháo của trẻ khi trẻ bị sốt tiêu chảy.
- Không cho trẻ ăn thịt gà khi trẻ bị sốt có ho vì sợ trẻ ho nặng thêm. Sự lo sợ này là hoàn toàn không có cơ sở khoa học vì thịt gà không gây ho cho trẻ.
- Không cho ăn cá, tôm, cua khi trẻ có nhiễm khuẩn ho hay tiêu chảy. Thực ra, chỉ trong trường hợp cá, tôm, cua là nguyên nhân gây tiêu chảy (hiếm gặp) thì mới cần ăn kiêng.
- Không dùng thuốc hạ sốt cho trẻ kịp thời (khi trẻ bắt đầu sốt từ 39 độ C) khiến trẻ bị co giật, dẫn đến những tổn thương ở não, gây chứng động kinh sau này.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Quang Cao 580x100

Cách xử lý khi trẻ bị sốt và ho

0 nhận xét

Khi thấy trẻ có các biểu hiện sốt hoặc ho, nhiều bậc phụ huynh thường tỏ ra lơ là, chủ quan và coi đây là chuyện nhỏ. Họ không biết rằng đó cũng có thể là dấu hiệu của những chứng bệnh rất nguy hiểm.

1. Sốt
Trẻ có thể sốt do mọc răng, thiếu nước, nhiễm virus, viêm não, viêm màng não, nhiễm trùng huyết... Sốt cao đột ngột có thể gây co giật ở trẻ nhỏ.
Cách xử lý:
- Giữ cho trẻ thoáng mát, lau mát, cho uống nhiều nước.
- Dùng các thuốc hạ sốt:
  • Paracetamol: 15 mg/kg thể trọng/lần, có thể dùng 3-4 lần/ngày, bằng đường uống hay nhét hậu môn.
  • Ibuprofen: 7-10 mg/kg thể trọng /lần, mỗi ngày 3 liều.
- Cần đưa trẻ đến một cơ sở y tế hay bệnh viện gần nhất nếu:
  • Thân nhiệt ở mức 37,8 độ C trong hơn một ngày.
  • Thân nhiệt tăng trên 38,6 độ C.
  • Sốt kèm theo các triệu chứng sau:
+ Co giật, đi khập khiễng hay lả người, không đi đứng được.
+ Trẻ lơ mơ, lừ đừ hay mê man.
+ Nôn mửa, tiêu chảy nhiều, gây mất nước.
+ Khó thở, tím tái.
+ Có các dấu hiệu viêm màng não (nôn mửa, thóp phồng, nhức đầu...).
+ Phát ban ngoài da.
+ Bỏ bú.
+ Vàng da.
+ Đi tiêu ra máu.
2. Ho
Ho làm cho trẻ mất ngủ, ói mửa, bỏ ăn, sụt cân. Trẻ bị ho do nhiễm trùng (virus hoặc vi trùng). Các bệnh gây ho:
- Viêm đường hô hấp trên (viêm mũi, họng, thanh quản, amiđan...).
- Viêm đường hô hấp dưới (phế quản, tiểu phế quản, phổi, lao phổi...).
- Hen, có dị vật đường thở...
Ho do các nhiễm trùng thông thường, dị ứng, hen nhẹ có thể điều trị dễ dàng tại các cơ sở y tế, không cần nhập viện. Đề phòng các biến chứng nặng như suy hô hấp hoặc khả năng lây lan cao, cần đưa trẻ vào bệnh viện trong các trường hợp sau:
- Ho do các nhiễm trùng đặc biệt như ho gà, lao.
- Có dị vật đường hô hấp.
- Viêm tiểu phế quản kèm tím tái, khó thở.
- Hen vừa và nặng.
Không nên tự ý điều trị bằng các loại thuốc ho hay kháng sinh khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Chẳng hạn, việc cho trẻ bị hen uống các thuốc ho thông thường sẽ không giúp giảm ho mà còn làm cho bệnh nặng hơn. Trường hợp ho do dị vật đường hô hấp, thuốc cũng không có tác dụng, cách điều trị duy nhất là lấy dị vật ra.

BS Nguyễn Thanh Hải, NLĐ

Quang Cao 580x100

Cần làm gì khi bé bị ho, hắt hơi sổ mũi?

0 nhận xét
Khi thay đổi thời tiết, mọi người rất dễ nhiễm bệnh. Bệnh do thời tiết thay đổi gây ra thường lây lan qua các giọt dịch tiết hô hấp phát tán khi người bệnh hắt hơi, ho trong môi trường đông đúc, bụi bặm.

Bệnh có các biểu hiện đột ngột hắt hơi, chảy nước mũi trong, chảy nước mắt, đau rát cổ. Sau đó vài ngày nước mũi trở nên nhày đặc hơn gây nghẹt mũi kèm theo ho nhưng trẻ vẫn chơi bình thường. Hầu hết các trường hợp do siêu vi đều có thể tự khỏi trong vòng 1 tuần nếu được chăm sóc tốt và không bị bội nhiễm vi khuẩn.

Biến chứng thường gặp là viêm tiểu phế quản ở trẻ nhỏ, viêm phế quản viêm phổi ở trẻ lớn hơn. Lúc này trẻ thường sốt cao, ho có đàm, thở nhanh, khó thở. Do bệnh nặng hơn làm trẻ mệt mỏi và kém chơi. Trẻ bị cảm lạnh có biến chứng phải được đưa đến khám và xử trí tại cơ sở y tế.

Việc chăm sóc thích hợp tại nhà giúp trẻ dễ chịu, mau lành và ngăn ngừa biến chứng.
- Trẻ bệnh cần được nghỉ ngơi tại nhà để mau hồi phục
- Duy trì chế độ ăn bình thường để tăng sức đề kháng cơ thể cho trẻ. Dùng thức ăn mềm lỏng, uống nhiều nước, tốt nhất là nước ấm.
- Làm thông thoáng mũi, vỗ lưng giúp tống xuất đàm ra ngoài. Dạy trẻ che miệng khi ho, hắt hơi, nhảy mũi. Không khạc nhổ bừa bãi.
- Có thể giảm đau họng bằng những loại thuốc như tắc chưng đường, si rô rau tần. Nếu trẻ còn bú mẹ thì sữa mẹ chính là thuốc giảm đau họng tốt nhất.
- Tránh tiếp xúc với khói bụi, thuốc lá, không khí lạnh sẽ kích thích trẻ ho.
- Cách ly trẻ với người bệnh để tránh lây lan.

Các bậc phụ huynh cần lưu ý theo dõi nhiệt độ, nhịp thở và các biểu hiện khó thở để phát hiện kịp thời khi bệnh trở nặng hơn. Khi trẻ có một trong các biểu hiện nước mũi đục, sốt cao, mệt nhiều, thở nhanh, khó thở hoặc trẻ ho trên 7 ngày, cần đưa trẻ đến bệnh viện để được khám và điều trị kịp thời.
=================
“Trẻ ho kèm theo một trong những dấu hiệu sau đây bắt buộc phải nhập viện để điều trị: thở nhanh (≥ 60 lần/phút đối với trẻ nhỏ hơn 2 tháng tuổi, ≥ 50 lần/phút đối với trẻ 2 – 12 tháng tuổi, ≥ 40 lần/phút đối với trẻ 12 tháng - 5 tuổi), rút lõm lồng ngực, thở rít, tím tái, bỏ bú hoặc li bì. Trường hợp ho kéo dài từ 4 tuần trở lên cũng phải nhập viện để tìm nguyên nhân’’, các bác sỹ khuyến cáo khi trẻ bị ho và có những triệu chứng như trên.

Các bác sỹ cũng cho biết thêm từ tháng 8 cho đến hết tháng 11 sẽ là những tháng trẻ dễ mắc các bệnh liên quan đến đường hô hấp. Do đó vào những tháng này, các bậc phụ huynh cần lưu ý đến trẻ nhiều hơn. Trong trường hợp trẻ bị ho mà vẫn bú tốt, ngủ ngoan thì vẫn có thể điều trị tại nhà. Điều quan trọng cần nhớ là phải làm thông thoáng mũi cho trẻ ngay trước khi bú và trước khi đi ngủ bằng nước muối sinh lý Natrichlorua 9% và phải theo dõi sát các dấu hiệu nặng kể trên để kịp thời mang trẻ đến bệnh viện điều trị.
Để giải thích về bệnh ho và các dạng ho thường gặp ở trẻ, các bác sỹ cũng cho biết thông thường trẻ sẽ có các dạng cơ bản là ho khan, ho có đàm, ho cấp tính và ho kéo dài.
Ho khan là ho không có đàm, xảy ra khi hít phải các tác nhân gây kích ứng như khói thuốc lá, mùi khó chịu, phấn hoa, nhiễm siêu vi…
Ho có đàm là khi ho tiết nhiều đàm loãng hoặc đặc.
Ho cấp tính là ho trong thời gian ngắn, thường dưới 2 tuần. Bệnh thường gặp gây ho cấp tính ở trẻ là nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính gồm viêm mũi họng, viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi…
Ho kéo dài khi ho liên tục từ 4 tuần trở lên. Nguyên nhân ho kéo dài tùy thuộc vào tuổi bệnh nhân. Trẻ nhỏ hơn 12 tháng tuổi cần phải tầm soát những nguyên nhân sau đây: trào ngược dạ dày - thực quản; dò khí quản - thực quản; dị tật bẩm sinh đường hô hấp; nhiễm Cytomegalovirus, Chlamydia, ho gà; tim bẩm sinh; hen phế quản…Đối với trẻ lớn hơn cần phải nghĩ đến một số nguyên nhân như viêm xoang, nhiễm Mycoplasma, hen phế quản, dị vật đường thở, lao, ho gà, tâm lý…
Do có nhiều dạng ho khác nhau nên cũng sẽ có những phương pháp điều trị khác nhau. Ví dụ như ho có đàm, nguyên nhân để gây ra các cơn ho là do sự tiết dịch của chất nhầy, do đó để cắt đứt cơn ho thì cần phải làm tiêu các chất nhầy và tống xuất đàm ra ngoài làm sạch đường thở. Một số biện pháp để làm long đờm là người bệnh nên uống nhiều nước hoặc sử dụng các thuốc long đàm như Acetyl cystein, Carbocistein, Bromhexin, Potassium iodine, Guaiphenesin, Terpin hydrat…Tuyệt đối không được sử dụng các loại thuốc ho có chứa antihistamin để điều trị những trường hợp ho có đàm.
Bên cạnh đó, có thể sử dụng các liệu pháp dân gian như ô mai mơ, quất, quả mùi, tần dày lá, tắc chưng đường phèn…để làm dịu họng giảm ho cho trẻ. Tuy nhiên vì đây là liệu pháp dân gian nên việc điều trị đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian.
Một số thuốc giúp long làm trên thị trường hiện nay có thể kể đến như : như Flemex, Mucosolvan,... trong đó Flemex được sử dụng cho ho có đàm. Trong Flemex có chứa thành phần làm long đàm (Carbocysteine), có tác dụng giảm độ nhầy dính của đàm, loãng đàm dễ khạc. Quá trình này sẽ giúp cho việc tống đàm một cách dễ dàng. Flemex có 2 loại : xi-ro và dạng viên nén được cho cả người lớn, trẻ nhỏ, và người già. Với người lớn bạn có thể dùng dạng viên, còn người già và trẻ nhỏ bạn có thể sử dụng loại xi-rô. Tuy nhiên cần lưu ý là những thuốc này không thể sử dụng cho trẻ dưới 2 tuổi. Đối với những trẻ dưới 2 tuổi cần đến bác sỹ kiểm tra để điều trị hợp lý.
Flemex một trong những loại thuốc ho long đàm có mặt trên thị trường hiện nay dành cho cả người lớn và trẻ nhỏ trên 2 tuổi.
Trong quá trình điều trị bệnh cho trẻ, phải cho trẻ ăn đầy đủ 4 nhóm thức ăn: đường bột, thịt cá, dầu mỡ và rau củ quả, trái cây; đảm bảo cho trẻ có đầy đủ chất dinh dưỡng để tăng sức đề kháng bệnh tật.
Tuy nhiên, trong khi bị bệnh trẻ thường chán ăn, nhất là trong lúc ho trẻ thường nôn ói. Vì vậy cần phải cho trẻ thức ăn lỏng, dễ tiêu hóa. Nên chia thành nhiều bữa ăn nhỏ và ăn nhiều lần. Tránh ép trẻ ăn quá no, khi ho trẻ dễ nôn ói, có nguy cơ hít thức ăn vào phổi làm cho bệnh càng trỡ nên trầm trọng hơn.
[Image]

++++++++++++++++++++++++++
Theo Cẩm Nang Nuôi Dạy Con

Quang Cao 580x100

Làm gì khi trẻ hay nôn ói?

0 nhận xét
Trẻ con thường khó tránh khỏi việc nôn ói, song mức độ và liều lượng ở mỗi bé khác nhau. 7 giải pháp dưới đây sẽ giúp bạn hạn chế được những lần trẻ muốn phun thức ăn ra ngoài:
1. Đưa trẻ đi khám bác sĩ để loại trừ nguyên nhân trẻ bị ói do bệnh (ví dụ: viêm họng, bệnh lý đường tiêu hóa)

2. Tạo không khí thoải mái khi cho trẻ ăn như kể chuyện, chơi đồ chơi, bố làm trò, xem tivi... Tuy nhiên nên giảm dần khi trẻ ăn khá hơn để tránh trở thành điều bắt buộc phải có cho mỗi bữa ăn.

3. Đừng cố ép trẻ ăn quá no. Thay vào đó, bạn nên chia làm nhiều bữa ăn. Quan trọng là lượng thức ăn cả ngày.

4. Sau bữa ăn nên cho trẻ vận động nhẹ nhàng. Tránh chọc trẻ khóc hay cười quá mức cũng có thể làm trẻ bị ói.

5. Nên sắp xếp cữ ăn gần cữ ngủ; giấc ngủ sẽ giúp cho cữ ăn của bé được an toàn.

6. Không nên la mắng khi trẻ bị ói. Một số trẻ giả vờ ói để dọa hay phản đối khi không muốn ăn nữa, lúc đó bạn vờ như không chú ý đến điều đó. Sau một vài lần thực hiện không hiệu quả, trẻ sẽ không làm điều đó nữa.

7. Cuối cùng, tình thương của bạn sẽ giúp trẻ vượt qua tất cả.

Theo Dantri

Quang Cao 580x100

Trẻ bị nôn có cần đi khám ngay?

0 nhận xét
Nôn là vấn đề hay gặp ở trẻ em, thường là nhẹ và xảy ra cấp tính, hiếm khi bệnh có thể nặng và đe dọa tính mạng.
Nôn thường không gây nguy hiểm cho trẻ nhưng nếu bé ói dịch màu xanh hoặc có máu, nôn ói liên tục trên 24 giờ, bú kém, có biểu hiện mất nước, sốt trên 39 độ C, li bì khó đánh thức... thì cần được đưa đến cơ sở y tế ngay.
Khi nôn, cơ bụng và cơ thành ngực co lại, đẩy dịch trong dạ dày lên thực quản và trào ra miệng. Xảy ra khi dây thần kinh trong não nhạy cảm với một số kích thích như: ngộ độc thức ăn, nhiễm trùng dạ dày - ruột, thuốc, chuyển động...
Tại sao trẻ nôn ói:
Nôn thường có lợi, bởi vì đây là cách cơ thể loại bỏ chất có hại. Tuy nhiên, không nên sử dụng thuốc hoặc các biện pháp gây ói như dùng ngón tay móc trong miệng, ngay cả khi trẻ uống nhầm chất có hại.
Hầu hết trẻ có thể tự hết nôn ói mà không cần điều trị, tuy nhiên cha mẹ cũng cần lưu ý nếu thấy dấu hiệu bệnh nặng hơn.
Nôn ói có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, tùy theo độ tuổi của trẻ.
Với trẻ sơ sinh và nhũ nhi, nôn vọt có thể là biểu hiện bệnh lý nặng và cần được đánh giá kỹ. Các nguyên nhân nôn ói có thể là tắc dạ dày (hẹp môn vị) hoặc tắc ruột. Ngoài ra, cũng có thể do nhiễm trùng đường ruột hoặc nhiễm trùng toàn thân. Bất cứ trẻ nhỏ nào sốt 38 độ C hoặc sốt cao hơn, kèm nôn ói, nên được khám tại cơ sở y tế.
Với trẻ lớn hơn, nguyên nhân thường gặp nhất gây nôn là viêm dạ dày - ruột, thường do siêu vi trùng. Viêm dạ dày, ruột có thể xảy ra khi trẻ ăn thức ăn bị nhiễm khuẩn hoặc ngậm tay bị nhiễm bẩn. Cũng có thể do ăn thức ăn được chế biến, hoặc bảo quản không đúng cách gọi là ngộ độc thức ăn nhưng ít gặp hơn.
Nôn ói do viêm dạ dày - ruột thường bắt đầu đột ngột và hồi phục nhanh, trong vòng 24 giờ. Những dấu hiệu khác của viêm dạ dày - ruột bao gồm: tiêu chảy, sốt, hoặc đau bụng. Những bệnh khác cũng có thể gây nôn ói là: trào ngược dạ dày - thực quản, viêm loét dạ dày, tắc ruột.
Khi trẻ bị nôn ói, cha mẹ nên theo theo dõi mất nước ở bé. Các dấu hiệu mất nước nhẹ như: môi khô, trẻ khát nước. Để bù nước, việc uống nước an toàn và đơn giản hơn truyền nước. Khi trẻ có dấu hiệm mất nước trung bình hoặc nặng bao gồm tiểu ít, khóc không có nước mắt, miệng khô, mắt trũng thì cần được đưa đến cơ sở y tế.
Với trẻ nhũ nhi, nếu đang bú mẹ mà bị nôn ói thì trẻ nên được tiếp tục bú mẹ, trừ khi có bệnh lý mà nhân viên y tế khuyên nhịn bú, bởi vì sữa mẹ dễ tiêu hóa. Nếu trẻ nôn ói lập tức sau khi bú, bà mẹ có thể cố gắng cho trẻ bú nhiều lần, mỗi lần ít một, ví dụ, cách 30 phút cho con bú một lần, mỗi lần 5 - 10 phút. Nếu nôn ói giảm sau 2 - 3 giờ, có thể cho trẻ bú lại như bình thường. Nếu nôn ói nặng hơn sau 24 giờ, cha mẹ cần đưa con đi khám.
Cha mẹ nên cho trẻ uống thêm nước, tránh uống nước có quá nhiều đường, tránh ăn thức ăn có nhiều mỡ sẽ khó hấp thu.
Theo SK&ĐS

Quang Cao 580x100

Xử trí khi bé bị nôn (trớ)

0 nhận xét
Nếu bé (dưới 6 tháng tuối) thường bị trớ sau khi bú mẹ (hoặc bú bình), bạn nên chia nhỏ các cữ bú trong ngày cho bé.

Sau khi bé bú, bạn không nên đặt bé nằm ngay. Thay vào đó, bạn nên bế bé với tư thế thẳng người; tiếp đến, bạn dùng tay vuốt nhẹ lưng bé. Nếu bé xuất hiện dấu hiệu ợ hơi thì việc bé bị trớ sẽ giảm hẳn sau đó.

Bạn tuyệt đối không nên cho bé bú nằm; bởi vì, khi bú nằm, sữa sẽ không xuống được phía dạ dày mà thường trào ngược lên thực quản, khiến bé bị trớ.
[Image]

Lưu ý:

Nếu hiện tượng nôn trớ của bé không đi kèm với những dấu hiệu khác như bé bị ốm, sốt, kém bú… thì bạn không nên quá lo lắng. Sau 6 tháng tuổi, dấu hiệu nôn trớ ở bé sẽ có xu hướng giảm dần.

- Bổ sung nước cho bé: Khi bị nôn trớ, cơ thể bé thường dễ bị mất nước; vì vậy, bạn nên tăng cường chất lỏng cho bé. Ngay khi bé ngừng nôn, bạn nên cho bé bú một lượng sữa nhỏ. Với bé bước vào tuổi ăn dặm, bạn nên cho bé dùng một chút nước đun sôi để nguội. Tiếp đến, bạn có thể cho bé ăn uống như bình thường nhưng bạn nên dùng thức ăn mềm, lỏng để bé không bị khó chịu.

- Thay đổi chế độ ăn của mẹ: Với bé bú mẹ hoàn toàn mà thường xuyên bị trớ, bạn thử kiểm tra xem, chế độ dinh dưỡng của mẹ có gây ảnh hưởng đến chất lượng sữa cho bé không.

- Đổi sữa ngoài: Một số bé bị trớ liên tục do dị ứng với sữa ngoài. Trường hợp này, bạn nên trao đổi với bác sĩ về việc thay đổi nhãn sữa cho bé.

Một số bé không thể dung nạp sữa bò cũng sẽ xuất hiện dấu hiệu bị nôn trớ. Trường hợp này, bạn có thể thay thế sữa bò bằng sữa chua, sữa đậu nành cho bé.

- Nếu cho bé bú bình, bạn nên đặt đầu vú cao su ở tư thế nghiêng, sao cho sữa ngập vào cổ bình, tránh cho bé nuốt phải nhiều không khí khi bú bình, tránh bị nôn (trớ).

Bạn nên pha sữa đúng công thức. Nếu bé tiếp tục bị nôn, bạn có thể đổi cho bé ăn sữa bằng thìa.

- Đưa bé đi khám: Nếu trong vòng 1 tháng sau khi chào đời, bé xuất hiện dấu hiệu bị trớ liên tục (cứ ăn xong là trớ) thì bạn nên đưa bé đi khám. Trường hợp này có thể là do bé đang mắc phải chứng hẹp môn vị. Bác sĩ sẽ tiến hành một cuộc tiểu phẫu để giải quyết vấn đề này ở bé.

Các dấu hiệu khác, bạn nên đưa bé đi khám bao gồm:

+ Bé mọc nanh sữa: Dấu hiệu thường thấy là ở lợi bé xuất hiện những nốt trắng, trông giống như trứng cá; bé bị chảy nhiều dãi; bé khó chịu khi bú; bé quấy khóc trong lúc ngủ… Trường hợp này, bác sĩ có thể dùng dụng cụ chuyên dụng để chọc (trích) nanh sữa cho bé.

+ Bé bị đau bụng, trướng bụng.

+ Bé bị co giật, xuất hiện dấu hiệu mất nước như môi bé bị khô, bé ít đi tiểu (thay dưới 6 chiếc tã do bé đi tiểu mỗi ngày).

+ Bé trớ ra máu hoặc đờm màu xanh.

Bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi muốn dùng thuốc chống nôn trớ dành cho bé. Thông thường, hiện tượng nôn trớ ở bé sẽ giảm dần và mất hẳn khi bé lớn hơn (ít khi để lại hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe của bé).

++++++++++++++++++++++++++
Theo Cẩm Nang Nuôi Dạy Con

Quang Cao 580x100

Cách chăm sóc bé hay bị nôn ói

0 nhận xét
Nôn ói rất hay gặp và tái đi tái lại nhiều lần ở mỗi trẻ nhỏ. Khi trẻ bị nôn ói nhiều trong một thời gian dài, sẽ dẫn tới hậu quả làm cho trẻ biếng ăn, thiếu dinh dưỡng. Nặng hơn, điều này có thể gây ra biến chứng về đường hô hấp và tiêu hóa...
Bé bị nôn ói do các nguyên nhân sau
+ Các triệu chứng về bệnh tiêu hóa và dinh dưỡng: Hội chứng trào ngược dạ dày thực quản, viêm dạ dày ruột cấp, nhu động dạ dày-ruột kém, dạ dày nằm ngang, thể tích dạ dày nhỏ, trẻ sinh non, ngộ độc, dị ứng thức ăn... Dị tật đường tiêu hóa: hẹp thực quản, hẹp tá tràng,...
+ Các bệnh về não: viêm màng não...
+ Các bệnh ngoại khoa: tắc ruột, lồng ruột, viêm ruột thừa...
+ Bệnh về hô hấp, viêm họng, cảm, sốt...
+ Sai lầm trong nuôi dưỡng trẻ nhỏ: ăn nhiều, vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh ăn uống không đảm bảo...
Hậu quả của nôn ói
Khi bé nôn ói nhiều sẽ có nguy cơ dẫn tới các biến chứng sau:
+ Viêm thực quản: đau nên sợ bú, khóc khi bú
+ Viêm mũi họng, viêm tai giữa hay tái diễn
+ Ho, viêm phế quản, các bệnh phổi,..
+ Thần kinh bị kích thích, hay quấy khóc...
+ Chậm phát triển, suy dinh dưỡng...
Kỹ năng chăm sóc khi bé hay nôn ói
+ Tìm nguyên nhân để điều trị bệnh kịp thời
+ Thực hiện đúng thao tác cho bé ăn: bế bé cao đầu khi cho bú, cho bé ngồi ăn, số lượng cho bú hay thức ăn cần phù hợp với độ tuổi..., nghiêng bình sữa 45 độ để sữa ngập kín miệng bình, không cho bú hay ăn quá no. Nên chia làm nhiều bữa nhỏ. Sau bú hay ăn, vuốt lưng bé từ dưới lên giúp bé ợ hơi. Sau 30 phút đặt bé nằm. Tránh để bé nô đùa, nhún nhảy nhiều trong và sau khi ăn
+ Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, dụng cụ..., tay cần rửa sạch khi pha chế thức ăn cho bé...
+ Chăm sóc sức khỏe, giữ ấm cho bé tốt
+ Đối với bé từ 7 tháng, cho ăn thức ăn cô đặc giàu calo như phomai (Fromage, fomat) tán nhuyễn trôn với bột, cháo hay trái cây, 1 miếng khỏang 17,5g thay bằng 60ml sữa bột mỗi ngày.
+ Đối với bé trên 1 tuổi, cho bé uống sữa giàu calo: 100ml sữa cung cấp 100Kcalo. Thay 300ml sữa bột hay sữa tươi = 200ml sữa bột giàu calorie.
Nguồn : Vinamilk

Quang Cao 580x100

Khắc phục chứng táo bón ở trẻ

0 nhận xét
Táo bón thực ra không phải là bệnh mà là chứng. Số ít là do hữu cơ chức năng tổn thương gây nên, 80-90% táo bón ở trẻ thuộc táo bón chức năng.

Nguyên nhân do không ăn đủ lượng chất xơ, ít uống nước
1. Chỉ thích ăn thịt: Trẻ kén ăn, chỉ thích ăn thịt, không ăn rau quả, hay ăn vặt… ngày càng phổ biến. Điều này khiến các em thiếu đi chất xơ hỗ trợ dạ dày co bóp. Chất xơ kích thích nhu động ruột, giúp co bóp xả chất thải ra khỏi cơ thể.
Cách điều trị: Chú ý tạo cho bé thói quen ăn đa dạng, tăng cường bổ sung rau xanh và hoa quả có nhiều chất xơ như cà rốt, rau cải, rau cần… Ăn chất thô: bột ngô, gạo, tiêu mạch…
2. Không uống nước: Uống nhiều nước giúp nhu động ruột hoạt động tốt hơn và làm mềm phân, do đó những người bị táo bón nên chú ý bổ sung nước. Hiện nay nhiều trẻ em không thích uống nước đặc biệt là nước trắng.
Cách điều trị: Cha mẹ nên kết hợp với thầy cô ở trường rèn cho trẻ thói quen uống nước trắng như một nhu cầu không thể thiếu. Muốn như vậy thì không mua cho bé các loại nước ngọt.
Với những bé đã quen uống nước ngọt thì cần pha loãng với nước trắng với lượng nước trắng tăng dần để không làm thay đổi khẩu vị đột ngột.
Nguyên nhân do lười vận động
Khi cơ thể vận động sẽ tác động đến sự co bóp của tràng vị, rất có ích cho đại tiện. Trẻ lười vận động thường rất khó khăn khi đại tiện.
Cách điều trị: Khuyến khích trẻ vận động, đặc biệt khi ở nhà.
Nguyên nhân do cố nhịn hoặc mải chơi
Trẻ mới đi nhà trẻ hoặc đi học hay bị táo bón do trẻ dễ bị căng thẳng trong môi trường lạ, khả năng thích ứng với cuộc sống còn thấp, biểu đạt ngôn ngữ có hạn, thêm vào đó bé còn ham chơi... lâu dần hình thành táo bón.
Nhu cầu đại tiện biểu hiện qua 2 bước: đau bụng và “giải tỏa”. Khi thần kinh trung ương phát ra tín hiệu, nếu không đáp ứng mà dùng ý chí ức chế mong muốn chính đáng này sẽ gây ra sự tích lũy chất độc trong đại tràng, chất thải trong ruột sẽ bị cứng lại, gây khó bài tiết và tạo nên táo bón.
Ngoài ra, táo bón còn là biểu hiện của sự mất cân bằng trong hệ tiêu hóa, chủ yếu do sự giảm thiểu bifidobactoria ruột, các chất độc lưu lại trong hệ tiêu hóa khiến nhu động chậm gây mắt cân bằng pH cuối cùng gây hỗn loạn chức năng và gây ra táo bón.
Táo bón khiến trẻ đi ngoài khó khăn bởi khi sợ hãi trẻ sẽ nhịn kết quả khiến bệnh ngày càng nghiêm trọng.
Cách điều trị: Hãy để bé hình thành thói quen đi ngoài. Sau bữa ăn trẻ thường có phản xạ muốn đi, hãy cho bé ngồi bồn. Dần dần sẽ hình thành thói quen “đi cầu” đúng giờ. Đối với trẻ lớn hơn, cha mẹ cần nhắc trẻ “đi cầu” vào 1 giờ nhất định.
Theo Dân Trí

Quang Cao 580x100

Phòng bệnh cho trẻ em trong dịp Tết

0 nhận xét
Mỗi độ Tết đến, xuân về, nhà nhà sum vầy, quây quần bên nhau thì người cao tuổi và trẻ em luôn là đối tượng được quan tâm nhiều nhất. Trẻ em được bố mẹ cho đi chơi xuân, về quê thăm ông bà, họ hàng. Nhưng cũng chính trong những ngày này, trẻ lại thường dễ gặp những "trục trặc" về sức khoẻ do nếp sinh hoạt hàng ngày bị thay đổi.
Trẻ thường mắc bệnh thuộc hệ hô hấp
Cứ vào dịp Tết hàng năm, số trẻ mắc các bệnh truyền nhiễm lây theo đường hô hấp như sởi, thủy đậu, ho gà, quai bị, viêm đường hô hấp trên, viêm phế quản, viêm phổi... thường tăng cao. Bệnh thường phát sinh và lây truyền nhanh trong dịp Tết vì mật độ người đông, nhất là ở những nơi vui chơi công cộng. Khi bị ốm, trẻ thường quấy khóc, ho, ngạt mũi, hắt hơi... sẽ làm bắn nước bọt, đờm dãi ra xung quanh có kèm theo vi khuẩn gây bệnh, trẻ khỏe thở hít phải nên bị lây bệnh.
Vì vậy, những ngày Tết không nên cho trẻ nhỏ đi chơi xa, đi tàu xe dài ngày, các bậc cha mẹ cần nuôi dưỡng, bảo vệ và chăm sóc trẻ chu đáo. Đảm bảo chế độ ăn uống vệ sinh trong dịp Tết, cho trẻ mặc đủ ấm. Khi trẻ mắc bệnh phải điều trị kịp thời, dùng thuốc đủ liều lượng theo sự hướng dẫn của thầy thuốc. Trong tủ thuốc gia đình nên có sẵn nhiệt kế, thuốc hạ sốt, dung dịch nhỏ mũi, mắt, gói oresol... để dùng khi cần thiết.
Nếu xuất hiện dịch bệnh đường hô hấp nên đề phòng bằng cách: Ngoài chăm sóc ăn uống và phòng chống lạnh, tránh gió lùa, có thể nhỏ mũi cho trẻ bằng dung dịch sunfarin hoặc natriclorid 0,9%, không cho trẻ ốm đi nhà trẻ, mẫu giáo để tránh lây lan cho trẻ khác.
Thường gặp nhất là bệnh tiêu chảy cấp, đặc biệt là dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm.
Tiêu chảy cấp là một bệnh phổ biến ở trẻ em lứa tuổi còn bú, gọi là tiêu chảy cấp khi trẻ đi ngoài trên 3 lần 1 ngày, phân lỏng có nước.
Có nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy cấp, có thể do vi khuẩn như: E.Coli, trực khuẩn lỵ Shigella, hoặc amip. Song có tới hơn 50% trường hợp tiêu chảy cấp ở lứa tuổi còn bú là do virut (còn gọi là Rota virut). Tiêu chảy cấp do virut thường có triệu chứng viêm đường hô hấp trên xảy ra trước đó như chảy mũi, ho, họng đỏ, viêm tai. Phần lớn trẻ mắc bệnh tiêu chảy cấp do virut xảy ra vào mùa đông - xuân trong dịp Tết, một số bệnh nhiễm khuẩn ngoài ruột như viêm phổi, viêm tai giữa cũng có thể gây tiêu chảy cấp.
Tiêu chảy cấp do vi khuẩn thường có sốt cao, có khi co giật, phân có nhiều nhầy, có khi có mũi hoặc máu. Ngược lại, tiêu chảy cấp do virut thường nôn rất nhiều, phân lỏng và khối lượng nhiều, không có máu, mũi hay nhầy. Ngày Tết, trẻ còn có thể bị tiêu chảy do ngộ độc thực phẩm, thường có biểu hiện nôn, tiêu chảy, đau bụng quặn... Hậu quả nghiệm trọng nhất do tiêu chảy cấp ở trẻ em là mất nước và điện giải, trường hợp nặng có thể gây tử vong nếu không cứu chữa kịp thời. Để phòng chống mất nước và điện giải cần cho trẻ uống ngay dung dịch oresol. Mỗi gói oresol pha vào một lít nước sôi để nguội, cho trẻ uống từng thìa. Sau mỗi lần trẻ đi ngoài, cho uống 50 - 100ml tùy theo tuổi, nếu trẻ lớn cho uống theo nhu cầu của trẻ.
Một chú ý đặc biệt khi trẻ đau bụng phải cấp cứu ngoại khoa là lồng ruột, viêm ruột thừa. Ở trẻ còn bú, biểu hiện bỗng dưng bỏ bú, ưỡn người, khóc thét, đi ngoài phân máu là biểu hiện của lồng ruột cần cấp cứu khẩn trương. Trường hợp thứ hai, trẻ lớn kêu đau bụng vùng quanh rốn hoặc hố chậu phải, buồn nôn, sốt nhẹ, bí trung tiện... cần cảnh giác trẻ viêm ruột thừa. Trong hai trường hợp này, dù thời gian nào (kể cả giao thừa hay sáng mồng một Tết) cũng phải đưa trẻ đến bệnh viện ngay càng sớm càng tốt.
Phòng bệnh ngày Tết cho trẻ không khó nếu các bậc cha mẹ chú ý đảm bảo dinh dưỡng và mặc ấm cho trẻ. Trong ăn uống, cha mẹ nên chuẩn bị thức ăn cho trẻ tươi ngon, cố gắng duy trì số và lượng thức ăn đều đặn như thường ngày.
Theo Sức khỏe Đời sống

Quang Cao 580x100

Phòng cảm cúm cho trẻ khi trời lạnh đột ngột

0 nhận xét
Vài ngày gần đây, thời tiết về khuya và sáng sớm đột ngột chuyển từ nóng sang lạnh, thường làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ em nhiều nhất. Làm gì để trẻ không bị bệnh, chăm sóc trẻ ra sao nếu lỡ bệnh rồi? Bác sĩ Nguyễn Duy Tiên - trưởng khoa ngoại chẩn, Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM) - cho biết:
- Khi thời tiết đột ngột thay đổi từ nóng sang lạnh, trẻ em rất dễ bị mắc bệnh cảm cúm với các biểu hiện viêm đường hô hấp trên, viêm mũi, viêm mũi họng, viêm thanh quản, khí phế quản. Triệu chứng khi trẻ bị cảm cúm là nhức đầu, nóng sốt, ho, sổ mũi, kèm theo buồn ói.
+ Vậy phòng tránh bệnh thế nào, có cần thiết chích ngừa cúm cho trẻ hay không, thưa BS?
- Phải giữ ấm cho trẻ khi trời chuyển lạnh: mặc quần áo ấm, khi cho trẻ đi ngoài đường nhớ mang vớ chân và đeo thêm khẩu trang để giữ ấm cơ quan hô hấp. Ngoài ra, cũng nên cho trẻ chích ngừa bệnh cúm, vì thời tiết chuyển lạnh trẻ dễ bị cảm cúm do virus cúm A H3N2.
+ Xin BS hãy hướng dẫn cách chăm sóc trẻ khi đã bị cảm cúm?
- Nếu trẻ bị sốt, có thể cho uống thuốc hạ sốt thông thường của trẻ em như Paracetamol với liều lượng 10mg/kg cân nặng. Nếu trẻ ho, dùng thêm thuốc ho Pectol vừa an toàn, vừa hiệu quả; có sổ mũi dùng thuốc sổ mũi... Lưu ý, không nên tự ý cho trẻ uống kháng sinh khi không có chỉ định của BS.
Ngoài ra, khi trẻ bị bệnh nên cho ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu như cháo loãng, sữa, xúp nấu nhừ, không cho trẻ ăn thức ăn sống, khó tiêu. Nếu trẻ thích ăn, uống nước trái cây tươi thì cho chứ không khuyến khích vì là thức ăn “sống”, trẻ dễ bị ói.
++++++++++++++++++++++++++
Theo Cẩm Nang Nuôi Dạy Con

Quang Cao 580x100

Tại sao bé bị đầy bụng, phân sống, biếng ăn và hay ốm?

0 nhận xét
Rối loạn tiêu hóa với những biểu hiện: đầy bụng, đi ngoài phân sống, hay nôn trớ, không chịu ăn… kèm theo các tình trạng mệt mỏi mạn tính, sức đề kháng yếu, dị ứng... ngày càng phổ biến ở trẻ nhỏ. Nguyên nhân là do trẻ bị loạn khuẩn đường ruột.
Thế nào là cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột?
Trong đường ruột luôn tồn tại một quần thể vi khuẩn bao gồm các vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại. Trong đó các vi khuẩn có lợi giúp tăng cường quá trình tiêu hoá, hấp thu chất dinh dưỡng, thải trừ các chất độc hại, kìm hãm và làm mất tác dụng của các vi khuẩn có hại ở đường ruột. Khi còn nằm trong bụng mẹ, trẻ được sống trong môi trường vô trùng, được bảo vệ cẩn thận. Ngay sau khi sinh, vi khuẩn bắt đầu xuất hiện và hình thành nên hệ vi khuẩn lòng ruột. Bình thường, khi cơ thể khỏe mạnh, số lượng vi khuẩn có lợi và có hại ở thế cân bằng nhau gọi là cân bằng vi khuẩn đường ruột.
Vì sao trẻ bị mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột?
Nguyên nhân trước tiên: Hệ tiêu hóa của trẻ nhỏ còn non nớt và chưa hoàn thiện. Bước vào tuổi ăn dặm, ngoài sữa mẹ, trẻ còn ăn thêm nhiều thức ăn khác nhau dễ dẫn đến tình trạng thức ăn không được tiêu hoá hoàn toàn. Nhất là các trường hợp trẻ phải chịu một chế độ ăn uống không hợp lý: trẻ bị ép ăn quá nhiều trong một bữa; các cữ ăn quá gần nhau với những loại thức ăn giàu đạm, đường, chất béo... ít chất xơ, vitamin, chất khoáng, quá ít sữa lên men tự nhiên ( như sữa chua, phô mai không béo...). Khi đó hệ tiêu hóa của trẻ không đủ sức tiêu hóa hết thức ăn. Thức ăn chưa tiêu hóa hết ứ đọng trong đường tiêu hóa tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn có hại phát triển mạnh làm lên men thức ăn và sinh ra nhiều hơi ( khí ) dẫn đến bụng bị chướng căng. Vì vậy, trẻ có cảm giác no, ăn kém đi, bỏ bú sữa, khó chịu, dễ nôn ói… Hơn nữa, thức ăn chưa tiêu sẽ tạo ra áp lực thẩm thấu cao kéo nước từ trong cơ thể vào ruột, gây hiện tượng đi ngoài phân sống hoặc lỏng nhiều lần trong ngày.
Nguyên nhân thứ 2: là do khi còn nhỏ, hệ miễn dịch của trẻ cũng chưa hoàn thiện. Chính vì vậy trẻ nhỏ là đối tượng rất hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn như viêm họng, viêm amidal, viêm phổi… trong những năm đầu đời và phải dùng kháng sinh để điều trị. Khi sử dụng một hoặc nhiều loại kháng sinh mạnh có tác dụng lên nhiều loại vi khuẩn, với liều cao và kéo dài, thì các loài vi khuẩn lành tính nói trên cũng bị kháng sinh tiêu diệt, phá vỡ thế cân bằng gây ra hiện tượng loạn khuẩn, do đó thúc đẩy sự phát triển của các chủng vi khuẩn gây bệnh có sẵn hoặc mới xâm nhập, dẫn tới chứng tiêu chảy hoặc viêm ruột do kháng sinh.
Khi bị rối loạn tiêu hóa, trẻ thường biếng ăn, dễ nôn trớ, đi ngoài phân sống... Qua thời gian ngắn, trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng và dễ bị ốm do sức đề kháng yếu. Khi cơ thể trẻ yếu thì các vi khuẩn có hại này lại càng có cơ hội để “ hoành hành” khiến cho rối loạn tiêu hóa càng trầm trọng hơn. Đây chính là cái vòng luẩn quẩn khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa.
Cách xử trí?
Khi trẻ có các dấu hiệu của rối loạn tiêu hóa như đầy bụng, biếng ăn, đi ngoài phân sống... cần đưa trẻ đi khám bác sĩ. Thông thường bên cạnh việc điều chỉnh chế độ ăn phù hợp, bác sĩ sẽ chỉ định các chế phẩm giúp lập lại cân bằng hệ vi sinh đường ruột. Các nhà khoa học nhận định rằng cách tốt nhất là bổ sung một hệ vi khuẩn mới có lợi dưới dạng chế phẩm Probiotics. Loại men vi sinh này sẽ giúp lập lại cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, hỗ trợ điều trị rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy, đầy hơi, khó tiêu... với những trẻ biếng ăn, kém hấp thu, sức đề kháng yếu và hay ốm.
++++++++++++++++++++++++++
Theo Cẩm Nang Nuôi Dạy Con

Quang Cao 580x100

Chữa mồ hôi trộm ở trẻ

0 nhận xét
Giadinh.net - Ra nhiều mồ hôi trong một số trường hợp là có lợi, (khi người bệnh đang bị một cơn sốt nóng hành hạ, việc toát mồ hôi sẽ giúp người bệnh thấy mát mẻ, dễ chịu hơn). Nhưng phần lớn trường hợp ra mồ hôi trộm ở trẻ là có hại.
Tuyến mồ hôi được điều hành bởi hệ thần kinh phó giao cảm. Khi hệ thần kinh này bị kích thích, nó sẽ thúc đẩy các tuyến mồ hôi thải ra nhiều mồ hôi.
Nhưng trẻ em ra nhiều mồ hôi không tốt vì khi mồ hôi ra quá nhiều và liên tục, cơ thể sẽ mất đi một lượng nước và muối. Sự mất nước và muối sẽ khiến cơ thể trẻ yếu đi, người mệt hơn.
Nếu hiện tượng đó kéo dài và liên tục ngày này sang ngày khác, cơ thể trẻ sẽ bị suy kiệt. Để hạn chế tình trạng ra mồ hôi “trộm” ở trẻ, các bà mẹ cần lưu ý:
- Giữ cơ thể trẻ thoáng mát, hạn chế các thức ăn sinh nhiệt, bổ sung các chất mát. Cho trẻ chơi đùa dưới bóng râm và tắm rửa sạch sẽ hàng ngày.
- Hạn chế các thức ăn sinh nhiệt như là mỡ, thịt bò, tôm cua, cá biển... Trong các loại trái cây cũng có một số được coi là thức ăn “nóng” như mít, sầu riêng, xoài... Các thức ăn này nhiều năng lượng nhưng lại sinh nhiệt, do đó dễ làm cho cơ thể có nhiều mồ hôi, có thể gây ngứa hoặc mụn ngoài da.
- Dùng thêm các chất mát, tức rau tươi, trái cây (trừ những loại quả “nóng”) hoặc các loại thảo mộc như actiso, rau má, cải bẹ... Cần kiên nhẫn dùng trong nhiều ngày.

Quang Cao 580x100
 

Copyright 2008 All Rights Reserved Revolution Two Church theme by Tung Shady